Tác phẩm

GIÓ VẪN THỔI HOANG VU - TRUYỆN NGẮN - NGUYỄN HỮU HỒNG MINH

Vô đề - Bút sắt
Họa sĩ Trần Phương Kỳ

 


Có những câu chuyện mà khi chúng ta dự định cầm bút lên để viết nhưng đã không viết nổi. Như một ám ảnh không nguôi. Mỗi lúc một đầy lên. Ngọn lửa đó thiêu đốt trong ta miên man và khô trụi. Thật kỳ lạ! Không viết nổi nhưng trong giấc ngủ nhọc mỏi những hình ảnh thi thoảng hiện về như một niềm hy vọng không bao giờ tắt. Và chúng ta lại cầm bút. Những con chữ như những vân đá ong khô cứng.

*

Trước khi lưu lạc vào phương Nam tôi đã có một thời gian ngắn đi làm gạch cho A Lìng, một tay người Mèo trắng ở Đà Sơn. Vùng đất hượng du năm sát dưới chân núi Chúa. Đó là một con người cô độc và u buồn. Hắn đã kế thừa một gia tài khổng lồ từ tay của người chú họ mà không tốn một xu ngoại trừ việc cần phải trộn vào rượu của ông ta món thuốc cực độc chiết từ là cây Êđớp. Đó là tất cả bí mật của A Lìng mà tôi thu thập được khi được hắn thâu nhận vào trang trại. Và từ đó trong đầu tôi luôn chuẩn bị những chiếc lá Êđớp cho hắn. Ôi tuổi trẻ, dám có những suy nghĩ thơ ngây và lạ lùng. Cứ như tất cả mọi thứ đều có thể đạt được một cách dễ dàng. Như cái trang trại hùng vĩ, uy nghiêm trên ngọn đồi cao kia. Và tại sao tên A Lình béo lùn, mắt một mí buồn rầu người Mèo trắng ấy lại cai quản được cơ ngơi đồ sộ nhiều tiền của đến thế mà không phải là tôi?

Năm ấy tôi vừa tròn hai mươi tuổi. Như một ngọn gió hoang. Và cũng đồng nghĩa như thế ngọn gió hoang thổi bạt tôi đến miền thượng du.

Công việc của A Lìng giao cho tôi lúc đầu cũng chẳng có gì phức tạp. Tôi giúp hắn làm toàn bộ sổ sách, ghi chép một cách tỉ mẩn những khoản thu chi hàng tháng. Tất cả bằng văn bản chẳng có một xu nào đến túi tôi. A Lìng là một tay đáo để. Hắn chưa bao giờ chịu thiệt dù rành rành trong con người hắn nhiễm nặng dòng máu dâu tộc bán khai và hắn cố gắng đánh tan dòng máu đầy mặc cảm đó một cách đáng khen ngợi. Hắn tinh quái như một con cáo. Hắn biết mọi thủ tục làm ăn với người Kinh. Dưới bàn tay hắn, A Lìng  không trừ một thủ đoạn nào để có thể nới rộng cơ ngơi và danh tiếng của mình. Hắn buôn thú quý, hương liệu từ rừng về thành phố. Và từ thành phố hắn học của người Kinh cách làm gạch đưa về miền đất này để rồi nhanh chóng phát lên một cách xứng đáng. Tôi mải mê với bí quyết của những chiếc lá Êđớp. Công việc tiến triển êm thấm và thuận lợi. Tưởng như chẳng bao lâu nữa tất cả cơ ngơi mênh mông của hắn lọt vào tay tôi thì một đêm bất ngờ A Lìng trở về đột ngột trước khi đã báo cho biết là sẽ vắng nhà trong thời gian dài. Hắn gọi tôi ra ngoài trong ánh lửa bập bùng ma quái của những ngọn đuốc trên tay bọn đàn em. Hắn bảo tôi chẳng cần tìm kiếm lá Êđớp nữa. Công việc ấy vừa khó khăn, vừa buồn chán mà biết đâu khi chưa đến đâu cả thì cổ tôi đã bị treo lên một ngọn cây nào đó không chừng. Còn bây giờ thì tôi nên giúp hắn - Tất nhiên, sẽ không được đồng xu nào cả để tẩy sạch máu - Như ý hắn nói, một công việc. Tôi bị ném lên chiếc xe trong đêm sâu.

*

Cuối tháng Bảy tôi hoàn toàn tuyệt vọng với cái nghề làm gạch. Tôi phải trả giá đắt cho giấc mơ Êđớp không bao giờ thành. Chu kỳ tẻ nhạt quay nặng nề mỗi ngày vắt tôi kiệt sức. Buổi sáng dậy thật sớm, mắt cay xè sưng húp. Bàn tay mềm mại hồng hào ngày nào đã chai nần vuốt lên khuôn mặt trai trẻ sớm cũ kỹ vì bụi bặm. Đã bao lần tôi úp mặt khóc trong bàn tay ấy. Tuổi trẻ của tôi đây sao? Mắt lồi, cằm nhọn lởm chởm râu ria, những cơ bắp đầy gân vì làm việc quá sức. Có kịp mơ mộng gì khi những chiếc xe tải rùng rùng nổ máy, cả bọn bước lên ảo não như tù binh bị cưỡng bức đưa ra pháp trường. Bao giờ Sơn cũng là kẻ đi cuối cùng. Miệng hắn còn hôi rượu. Suốt đêm qua hắn dùng rượu để đốt cháy nhọc nhằn. Dáng người khật khưỡng, toát lên vẻ u ám hằn học. Đôi mắt đục ngầu dữ tợn, bộ râu xác xơ tàn úa. Sơn ngủ li bì khi chuyến xe rùng rùng lắn trên đường, sương mai còn quyện chặt nồng nàn. Một ngày mới bắt đầu bằng chiếc xe chở cả bọn đi bốc đất sét trên cánh đồng Đà Sơn.

Những cánh đồng không giam giữ ngày tháng mà còn bít bùng giấc mơ của tôi nữa. Ôi, những chiếc là Êđớp báo hại và tên A Lìng mập lùn. Nhiều đêm thao thức tôi biết rằng mình chưa thể thoát khỏi cái màu vàng ảm đạm và não nùng. A Lìng đã cười vào giấc mơ tôi. Còn đâu sự tự do của tôi với những đồng tiền chính đáng mà tôi làm ra từ công việc sổ sách? Và tôi có thể ra đi như từ giã một công việc mà mình không ưa thích. Còn giờ đây biết bao giờ A Lìng tuyên bố tôi đã rửa sạch máu?

Bây giờ xung quanh tôi chỉ có những ngọn gió phóng túng thổi từ trên đỉnh núi Chúa. Đôi khi chúng thét gào lồng lộn trong đêm sâu. Sau đó ít ngày là mưa rát mặt. Có thể một cơn bão lớn tràn về. Hay vẻ hoang vu của một vùng đất đỏ, sự lặng câm bí mật của khu mộ công giáo mênh mông thập tự giá nhấp nhô bên sườn núi. Tiếng chiêng trống ảm đạm rợn người giữa chiều gió mưa khiến lòng tôi tràn ngập nỗi niềm hoang vắng đầy mặc cảm của một kẻ xa lạ. Sự cô độc đó dâng trào khi một đêm khuya khoắt tiếng chiêng đổ dồn. Cọp về đèo ông Gấm. Sáng ra mọi người chỉ cho nhau thấy những dấu chân, nhiều bụi cây bị dẫm nát. Một con chó bị vồ đi. Sương loang mãi trên đỉnh núi Chúa. Người và cảnh vật đều buồn.

*

Công việc mỗi lúc một nặng nề hơn. Nếu như cái lò gạch làm đầy túi tiền A Lìng bao nhiêu thì chúng tôi bị vắt kiệt sức lực bấy nhiêu. Tôi đã gặp Sơn là một người Kinh như tôi tha dạt lên miền núi. Hắn là đứa mà A Lìng hoàn toàn tin tưởng. Và là kẻ duy nhất được nghe tôi kể bí mật về chiếc lá Êđớp. Tất nhiên mọi chuyện về sau này, khi chúng tôi đã thực sự hiểu nhau còn bây giờ tôi biết sau A Lìng, Sơn chính là kẻ theo dõi sít sao mọi công việc của tôi. Từ sáng sớm cho đến tối mịt chúng tôi phải làm việc ngoài đồng để lấy cho được hàng chục chuyến xe tải đầy đất sét để đưa về lò gạch. Thật không dễ dàng tí nào. Đối với một kẻ thạo việc đã đòi hỏi lòng nhiệt thành và sức chịu đựng bền bỉ. Còn thằng con trai đầy hão huyền như tôi úp mặt vào đống bùn là chuyện xảy ra gần như thường trực. Có điều mỗi lần như thế Sơn kéo đầu tôi dậy chứ không cười hô hố giống như những thằng cặn bã khác. “-Làm đi!”. Hắn ra lệnh. Tiếp tục những tảng đất sét lớn từ dưới cánh đồng được cắt ra ném lên và tôi chuyền cho Sơn trước khi hắn hất vào thành xe. Hôm đầu tiên tôi loạng choạng rồi ngất đi không còn biết gì nữa.

Đêm ấy tôi mơ thấy một mặt trời đè mặt và lặn sâu trong ngực. Tôi thấy chiếc lá thiêng hiển hiện, nay nhòe trước mặt nhưng cố với mà không tới. Gương mặt A Lìng câng cáo thỏa mãn. Rồi mọi thứ bị chìm trong tiếng hổ gầm, mưa gió heo hút trên đèo ông Gấm và những thác nước tiếp tục đổ rền rĩ xuống dưới chân núi Chúa…

 *

Tôi chẳng thấy ai như Sơn. Ít nói đến khó hiểu. Dáng vẻ to lớn thù lù của hắn thô vụng trong từng cử chỉ đơn điệu. Sơn đã ở lò gạch này gần sáu năm. Suốt quãng thời gian lưu lại đây hình như tôi chưa hiểu được người bạn đồng hành của mình. Hắn quán xuyến mọi việc khi vắng mặt A Lìng và dường như cũng chẳng thích thú lắm vì điều đó. Khi A Lìng đi khỏi trang trại ai nhắc đến thì môi hắn chẫu dài như một cái ống.

Ban ngày nóng bức bao nhiêu thì ban đêm càng lạnh lẽo bấy nhiêu. Vào lúc ấy không biết làm gì để tiêu phí thời gian. Tôi thường ngồi rất lâu để nghe tiếng ếch nhái kêu chuộc chuộc một cách tuyệt vọng. Những đám khói lan tỏa mù mịt xa mờ trên các cánh đồng. Bọn thợ làm gạch tụ hợp lại hát những bài ca lâu khốc mà chúng nghĩ ra. Mắt của người đang hát bao giờ cũng chỉ hé mở tràn ngập một nỗi buồn tuyệt đẹp. Sơn đã bỏ đi đâu tôi không biết. Còn tôi cẫn chưa hòa nhập được với bọn họ. Cảm giác như mình vẫn bị sự dèm pha rẻ rùng đeo đuổi. Hình như tâm trạng ấy vẫn còn mãi tồn đọng ở một nơi sâu kín nào đó thăm thẳm trong tâm hồn.

Và Sơn đêm nào cũng bỏ đi rất khuya. Sau này tôi biết hắn lê la với những quán rượu nhỏ bên ngoài thị trấn. Nơi đó phải đi bộ hằng cây số và thường nhìn thấy những ánh đen quạnh hiu, khuya khoắt. Tôi đã vài lần tìm xuống con đường ấy vào chiều tối. Đôi khi không phải tìm một thứ gì nhấm nháp mà thường phải tập đánh hơi như người thợ săn thú. Mùi rượu Vốtca mới ngửi  đã cay sộc sóng mũi. Sơn say khướt. Hắn nằm úp mặt, tay cào lên đất, nôn ra chua lè. Chúng tôi nhặt xác hắn về lều khốn nạn và ì ạch như mang một con chim lớn bị gãy cánh. Trong buồng nhỏ của Sơn lăn lóc toàn vỏ chai. Chiếc màn vàng ố, bẩn thỉu. Ở dưới gầm giường cũng toàn vỏ chai. Cái nứt toát. Cái sứt cổ. Những con gián vô tình nghiện rượu khi sục sạo và liếm khô đến giọt cuối cùng. Từ đó lũ gián không còn đi đâu nữa. Chúng đê mê với những giọt nước thượng thặng đó. Sơn cũng không chịu nổi sự quấy rầy đến mức dạn dĩ của bọn khốn kiếp. Hắn cáu kỉnh đập chết từng con gián rồi cũng chả buồn hất ra cửa. Thế là vài hôm sau bầy kiến đen lết thết đông đảo như đoàn quân dàn trận cõng những cái xác đen lùi lũi kia đi.

*

Trong đêm cuối cùng trước khi chia tay nhau chúng tôi đã ngồi rất lâu bên ngọn lửa. Những con dơi kêu ngoài trời và quạt rất mạnh đôi cánh của nó. Lần đầu tiên Sơn nói về mình bằng một giọng trầm buồn, lạc nhiều dấu để tôi nhận ra âm thổ của đứa con miền biển. Sơn kể về những ngọn thủy triều phóng túng trên bãi cát. Biển xanh lấp lánh xác những con cá kiếm chết khô dưới mặt trời tanh nồng. Tuổi thơ Sơn đơn điều đến nỗi khi hồi tưởng lại hắn chỉ nhớ những dấu chân bấm nhòe trên cát trong khi từng đợt sóng tung vào bờ chợt cuốn phăng tất cả đi. Năm Sơn mười sáu tuổi một cơn bão lớn thốc vào làng cá. Nhà tốc mái. Xác thuyền đắm. Những xác người dạt vào bờ trương phồng, mặt mày nhàu nát vì cá rỉa. Sơn bỏ làng đi từ ấy. Hắn chạy trốn sự đói nghèo và bất hạnh. Nhưng cứ mãi bị ám ảnh vì những tiếng hú như là sự rượt đuổi. Đó là hình bóng của những người đàn bà tóc tai dã dượi, chân trần chạy dọc biển cầu hồn cho những người đàn ông không bao giờ trở về. 

Bây giờ tất cả như trở thành dĩ vãng. Màn mây lạnh lẽo trùm trên đỉnh núi Chúa kia và cơn lốc bụi đỏ triền miên trong Sơn. Rượu làm lãng quên mọi thứ. Sơn sẽ uống mãi, uống mãi cho đến khi mắt mờ đẫm, rượu chảy ướt hết râu, đầu gục hẳn xuống. Lúc đó có tiếng gió rít trên mái lều hoang vắng, sương tràn về. Tiếng những con chó sủa lạc lõng. Mùa đông hâm hấp lụi tàn. Trong giấc ngủ, Sơn nói nhiều câu ngớ ngẩn về một ngày rã rời khô khốc. Tôi nhận ra bóng của mình trong đấy với vị đắng ảo tưởng chiết ra từ lá thiêng Êđớp.  

*

Chiếc lá thiêng mãi ám ảnh trong kỷ niệm tôi, khi tôi trốn khỏi lò gạch mà không bị một sự truy đuổi nào của A Lìng. Có lẽ tên người Mèo trắng kia vẫn xem tôi là đứa trẻ con trong mắt hắn. Tuy nhiên, Sơn không giống A Lìng, bời anh đã giúp tôi trốn thoát.  Và Sơn vẫn ở lại. Vẫn rượu. Vẫn bụi với lò gạch đỏ. Vẫn say và vẫn để lại những hạt rượu cuối cùng cho những con gián. Những ước mơ tan vỡ. Một cuộc đời đã khép. Tháng ngày như một ngọn gió hoang vu…

 

Lò gạch Quảng Thắng, Hòa khánh - Đà Sơn

Mùa hạ, 9.1996


NGUYỄN HỮU HỒNG MINH


©nguyenhuuhongminh.com