Tác phẩm

THƠ CHÍNH XÁC - PHÊ BÌNH TẬP THƠ "CHẤT TRỤ" CỦA NGUYỄN HỮU HỒNG MINH - TAM LỆ

Nhà phê bình Tam Lệ


TAM LỆ



Chẳng phải nghi ngờ gì khi nói rằng con người yêu thích sự chính xác. Giờ đây chẳng ai còn thích thú với suy nghĩ trái đất hình vuông và bất động còn mặt trăng có chú cuội ngồi gốc cây đa.

Tôi đã lang thang quanh hòn đá lớn trước cái nền nhà của Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. Hòn đá ấy không mấy làm tôi rung động. Những trăng, những trúc mai, con thuyền gối bãi trong thơ ông là những hình ảnh rất đỗi mù mờ, tôi có thể nói rằng chúng được viết ở Trung Hoa, ở Lào mà chẳng ai cãi nổi. Cây trúc chẳng hạn, nó chẳng còn là cây trúc nữa, mà là một ẩn dụ. Thật thương cho cây trúc. Tôi từng gặp một loài trúc rất đặc biệt ở vùng Tây Bắc. Thứ Trúc Lùn vàng hoe bao năm tháng, rất có thể là một loại trúc đặc hữu, xứng đáng có một cái tên riêng trong thế giới thực vật. Và tôi không tìm thấy loài trúc đặc biệt nào tại Côn Sơn, qua thơ Nguyễn Trãi. Thậm chí bạn sẽ nói với tôi rằng Nguyễn Trãi hoàn toàn có thể làm thơ về cây trúc mà xung quanh ông chẳng có cây nào. Thế đấy, ngay cả Nguyễn Trãi người từng viết địa chí, một người sớm nhận ra chân giá trị của sự chính xác, lại không làm nổi điều đó trong thơ, ít nhất là không làm được với cây trúc, chúng quá nhạt nhòa đối với tôi.

Hàng chục năm trước tôi đã đọc thấy những dòng phàn nàn đối với Nguyễn Du khi ông tả vẻ đẹp của Thuý Vân và Thuý Kiều một cách quá chung chung khiến người ta không tài nào hình dung được đấy là những nàng Kiều thế nào. Họ giống tiên chăng? nhưng tiên là những người thế nào nhỉ? Đã ai nhìn thấy tiên một lần rồi thì xin liên hệ với Viện Văn.

Rất may, Nguyễn Du mang con mắt phóng sự và Truyện Kiều có thể coi như thiên ký sự về gái làng chơi, cho đến nay vẫn chưa ký sự nào bì kịp nó về tính chính xác. Những cuộc ăn chơi trác táng vung tiền qua cửa sổ, những trò làm trinh giả của Kiều, thật điển hình cho lối thơ chính xác cao. Chúng tiến rất xa so với các dòng thơ tràn ngập những ước lệ trong thơ Nguyễn Trãi. Nhưng, nửa thế kỷ sau khi tác giả của nó qua đời bản in Kiều mới ra đời được. Những lời than vãn rằng ba trăm năm sau có người nào khóc Tố Như không, nói với ta một tâm sự nào đó của ông, không chỉ về cuộc đời gần như ẩn dật mà còn nói về con đường thơ đã được ông mở toang. Những nỗ lực phi thường, nhưng của từng cá nhân, đã làm cho thơ ngày càng chính xác hơn. Sự chính xác một cách kỳ diệu trong thơ Hồ Xuân Hương là một ví dụ nổi trội. Nó chính xác không chỉ ở nghĩa bóng, mà còn ở nghĩa đen. Nó sinh động không chỉ ở tư duy, mà còn trong cả ngôn từ và hình ảnh. Khi bà tả trò chơi cờ người, trò chơi đu, thậm chí một cái bánh trôi, chúng ta cảm giác như thoạt tiên bà là một tay phóng viên có đẳng cấp. Gần như có thể làm được bánh trôi sau khi đọc thơ Hồ Xuân Hương. Ðiều mà người ta mơ hồ nhất, cho đến ngày nay, chính là thân thế con người ấy. Một nữ sĩ giang hồ thực thụ hay là kẻ bị cuộc đời lãng quên ?

Một người nữa cũng khiến cho thơ chính xác hơn. Chỉ cần nói như thế thôi chúng ta đã biết đó là Nguyễn Khuyến. Ba thi phẩm về mùa thu của ông khiến người ta như sờ, như nắm được cái mùa thu ở Ðồng bằng Bắc bộ trước khi chúng ta chìm  đắm vào một thế giới liên tưởng nào đó. "Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe" - cái ngõ này đã in sâu trong tâm khảm chúng ta, không phải vì chúng ta từng sống với nó mà vì cái ngõ được viết bằng một thứ thơ chính xác đến mức chẳng bắt bẻ vào đâu được. Tôi đã đi, vào cái ngõ cong queo ấy. Cái ngõ. Nó chẳng có gì đặc biệt cả. Thực là "Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe". Nó hun hút như muôn ngàn cái ngõ tối tăm trong lịch sử dằng dặc. Nguyễn Khuyến tiên phong trong đề tài thơ Lụt. Xã của ông hiện giờ vẫn là một xã vùng chiêm trũng. Những cái ao bị lấp đi mất nhiều, nhưng người ta vẫn còn chỉ cho ta những con kênh nhỏ và bảo : "Phan Bội Châu đã đi thuyền tới nhà gặp cụ, bàn chuyện nước, rồi chiều tối lại lên thuyền nhỏ đi đến căn cứ bãi sậy". Cái ao thu là thế, nó không phải là một thứ ao ước lệ. "Cụ thường chèo thuyền, câu cá kiếm tí chất tanh, lương bổng của cụ chẳng ra gì" - những hậu duệ của cụ nói với tôi, và ông chỉ cho tôi một cái xô đang toóc toóc quẫy những con cá đồng.

Tôi không ngạc nhiên khi Tú Xương như một học trò nghiêm túc của cụ Tam Nguyên Yên Ðổ. Tôi cũng không ngạc nhiên khi những dòng thơ tả về đám đàn bà ngoa ngoắt Thành Nam đến bây giờ vẫn làm cho người ta phải giữ mồm giữ miệng chỗ đông người. Nhưng tôi lại ngạc nhiên khi những người đàn bà trong thơ Nguyễn Bính nuột nà khác thường. Lụt và gái đĩ Cầu Nôm lại nhường chỗ cho hoa xoan, khung cửi, ở chính thế kỷ 20. Tôi đã ngạc nhiên quá. Không tin được. Cũng như khi tôi không tin nổi rằng những cuộc chiến tranh giải phóng với hàng triệu người ngã xuống, nơi đối cực đông - tây, cuộc va chạm khủng khiếp của người phương đông với những cường quốc thế giới là Pháp và Mỹ, nơi con người trực tiếp nếm làn đạn của hai cuộc đại chiến thế giới, nhưng lại chẳng có một tác phẩm nào đủ tầm cỡ với nỗi đau thương ấy, nếu ta không kể tới cuốn "Nỗi buồn chiến tranh" được viết sau khi lửa chiến tranh đã nguội. Thật ngạc nhiên, một thế kỷ đẫm máu và nước mắt đã đi bên ngoài văn học. Người Việt Nam kéo nhau đi xem phim Ðiện Biên Phủ do người Pháp làm bằng con mắt ngỡ ngàng, và xúc động nữa. Trong các bài ký của Nguyễn Tuân, chiến tranh dường như ở đâu đâu, thậm chí cảm tưởng như đất nước này chẳng trải qua hàng trăm năm đầu rơi máu chảy. Tô Hoài thì viết Mường Giơn trong cảnh giải phóng.

Đến bây giờ tôi vẫn chưa thể nào tin, và chưa thể nào lý giải được sự xuống cấp của Thơ Mới. Tôi cũng chưa đánh giá được hết tác hại của nó cho đời. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều với cái ý nghĩ chua xót rằng Thơ Mới là một sự suy đồi thực sự của thi ca Việt Nam. Gần như nó đã đánh mất phẩm chất chính xác vốn đã chào đời. Nó không đi theo con đường của cụ Tú Xương. Tràn ngập cùng những Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Bích Khê ... là sự hồi xuân kỳ quặc của thủ pháp ước lệ trong thơ. Những bến đò, dòng sông, con thuyền, trăng, mùa thu ... được bổ sung thêm dăm bảy tiếng còi tàu day dứt. Tôi đã gần như thuộc lòng bài "Ðây mùa thu tới" của Xuân Diệu nhưng sao nó vẫn cứ xa tít tắp so với cái mùa thu mà tôi từng được biết, nó càng xa cái mùa thu trong ao thu. Gió lướt thướt, những hàng liễu, nắng. Ðiều đó chẳng gợi lên một cái gì. Mùa thu ấy ở đâu? Hồ Gươm ư? tôi không dám chắc, nó có vẻ như là một mùa thu trong tâm tưởng Xuân Diệu thì phải, nó chẳng giống mùa thu. Dòng sông trong bài "Tràng Giang" của Huy Cận là dòng sông nào? hay nó chỉ là cái dòng sông ước lệ chảy trong thơ Lý Bạch còn đến bây giờ?

Sự hiện diện gần như thường trực trong thời gian dài, trăng trong thơ Hàn Mặc Tử có lẽ là điều làm tôi đau nhất. Anh đã bắt đầu sự nghiệp bằng những cánh chim nhạn cũ kỹ và hầu như không có thực. Anh đã trăn trở tìm tòi rất nhiều để đổi mới thơ và là nhà thơ duy nhất trong phong trào Thơ Mới không chỉ có những bài thơ mà còn có cả một quá trình thơ, những tập thơ không phải là sự nối dài của nhau mà là những sự phủ định, phủ định, thay đổi không ngừng không nghỉ. Nhưng, tôi không thể nào tìm thấy sự đau đớn thật sự của bệnh phong. Dường như Hàn Mặc Tử chỉ viết về nỗi đau tâm tưởng. Tìm hiểu bệnh phong tôi biết người ta có thể bị rụng dần các bộ phận cơ thể mà không đau đớn gì cả. Ðó là nguyên nhân khiến anh không đưa vào thơ những nhói, những giật, những tê buốt ? Nhưng điều gì biện giải cho anh khi anh vẫn chưa dứt được trăng, cái mặt trăng đã từng có từ thời Khuất Nguyên và rọi sáng thạch đá bàn trên Côn Sơn. Những vũng cô liêu của anh, cũng mơ hồ quá. Nếu như anh tả vũng mồ hôi lo sợ của anh trong cái trại phong, nó sẽ gợi ra sự cô liêu rõ ràng hơn rất nhiều, thay việc anh gọi tên những vũng cô liêu vạn đời gần như hô khẩu hiệu. Thật là đáng tiếc. Tôi không thể tìm hiểu gì về căn bệnh phong qua thơ Hàn Mặc Tử, và ánh trăng huyền hoặc, một nàng thơ mang đầy ý nghĩa biểu tượng cũng lấn lướt rất nhiều điều anh muốn gửi lại. Ðến bây giờ người đời thường nhắc đến bài "Ðây thôn Vĩ Dạ" của anh nhiều hơn. Những nét chấm phá đầy hứa hẹn và nó gợi nhớ tới lối thơ chính xác của Nguyễn Khuyến. Nhưng anh lại rẽ vào con đường thi ca tràn đầy sự tráng lệ và những câu chữ cùn mòn hầu như không có sức biểu cảm: trăng, buồn, cô liêu, cô đơn, sầu, máu ... Tài thơ của anh không thể chiến thắng được một thế giới chữ nghĩa nhanh chóng bị xơ cứng.

Thơ Mới có phải đã để lại di chứng lâu dài trong tâm tưởng con người? tạo ra những nhà thơ viết về kháng chiến mà chẳng  cần phải nằm địa đạo? Không, tôi nghĩ lại, và thấy Thơ Mới cũng chỉ là một sự lựa chọn của cái tâm hồn chưa lựa chọn cho mình thơ chính xác thôi.

"Ngục trung nhật ký" là một tập thơ đặc biệt. Nó ra đời có lẽ cùng thời với Thơ Mới. Trong "Ngục trung nhật ký" chúng ta có  thể tìm thấy một số bài thơ với nhiều câu thiếu chính xác, như thân thể ở trong lao tinh thần ở ngoài lao. Nhưng cho đến nay, đấy vẫn là tập thơ giàu tính chính xác bậc nhất về cảnh lao tù. Ðập đá ở Côn Lôn trong thơ Phan Chu Trinh gần như chỉ là một ẩn dụ. Nó gần với lời tuyên ngôn tinh thần chiến đấu hơn cảnh đời đập đá của đám tù nhân đói cơm rách áo bị cư xử chẳng hơn gì con vật. Trong "Ngục Trung nhật ký" thơ đã xuất hiện ghẻ, răng, đại tiện. Thơ chính xác đến đây đã bước được một bước rất dài. Nhất là khi "Nhật ký trong tù" viết bằng chữ Hán, thứ chữ vốn trước đây ít dùng cho lối thơ tả cảnh đại tiện. Nhưng những người tôn vinh tác giả tập thơ ấy lại làm ra những tập thơ chẳng bao giờ kiểm chứng được. Sự thất bại của thơ chính xác lần này lại củng cố thêm cho tôi cái cảm giác bị hắt hủi của những con người luôn nghiêm khắc với bản thân và với con người. Ðôi khi chính những con người tội nghiệp ấy hắt hủi chính mình. Tôi đã vô cùng kinh ngạc và sửng sốt bởi những trang ghi chép tư liệu của Nguyễn Thi trong di cảo của ông. Chúng tạo ra cho tôi cảm giác bùi ngùi hơn cuốn "Nỗi buồn chiến tranh" rất nhiều. Chúng thật quá. Chúng chẳng văn chương tí nào, chẳng hư cấu cũng chẳng điển hình gì cả, chúng chỉ là những trang chép tay về những cảnh kinh hoàng trong thời chiến. Chúng thực sự sẽ còn làm tôi xúc động cho đến khi tôi chết. Cảm giác ấy thật khác với lúc tôi đọc những truyện ký của ông, chúng chẳng giống tí nào với các cuốn sổ tư liệu nóng bỏng nữa. Nguyễn Thi, ông và Hàn Mặc Tử đều dang dở như nhau.

Một mối ràng buộc nào đấy giữa thủ pháp ước lệ và lối thơ "đao to búa lớn". Cây trúc, bị ước lệ rồi, nó hóa thành cái gì đó to  lớn lắm, thậm chí kỳ vĩ, trong hồn người ta. Cây trúc nhanh chóng bị lãng quên và hóa thân vào một điều gì ghê gớm. Sức khái quát của thủ pháp này có lẽ là một nguyên nhân? Ước lệ cùng những phái sinh của nó và lối thơ "đao to búa lớn" thật như anh em sinh đôi.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song

(Huy Cận)

Ai mua trăng tôi bán trăng cho
(Hàn Mặc Tử)

Yêu là chết trong lòng một ít
(Xuân Diệu)

  Chào sáu mốt đỉnh cao muôn trượng
(Tố Hữu)

Thơ không chính xác, ta hãy gọi vui như thế, tất nhiên là tạm giới hạn ở độ mù mờ quá cao của từ, cũng qua nhiều chặng đường. Thủ pháp ước lệ ngày càng tân tiến. Sức sống của nó thật đặc biệt, một khi nó từng quật ngã một người như Hàn Mặc Tử thì chúng ta cũng không ngạc nhiên khi thấy nó tiếp tục lớn mạnh cho đến bây giờ. Lối tư duy "tóm lại là", "nói chung là", với những ưu việt của khái quát hóa, mô hình hóa, và đơn giản hóa, giúp đỡ con người rất nhiều. Mọi người đã quá quen với nó. Hay là tính qua loa đại khái cổ vũ cho những "tư tưởng lớn"?

Trong tay tôi đang cầm cuốn "Chất Trụ"(*) của nhà thơ nhiều triển vọng Nguyễn Hữu Hồng Minh. Anh gần như là người thuộc thế hệ làm thơ mới nhất ở trong nước bây giờ. Cũng như một số người làm thơ trẻ khác, những câu thơ có độ chính xác không cao vẫn xuất hiện trong thơ anh. Tôi lại gặp ngôn ngữ chung chung, những từ đã mang trên mình nhiều lớp nghĩa (không phải như từ "bánh Trôi" hồi trước khi có Hồ Xuân Hương). Những ẩn dụ, những ám chỉ.

Những nhà thơ trẻ thường thích điều to lớn kỳ vĩ nên lựa chọn cho mình thứ chữ nghĩa nào đó nhanh chóng diễn đạt được sự to lớn, càng to càng tốt? (Hàn Mặc Tử qua đời khi vẫn còn khá trẻ, và anh thường tuyên ngôn về thơ, về cuộc đời một cách giản đơn. Một công việc chẳng giống gì một bài thơ, vị trí của nó là trong nhật ký hoặc trong luận án tiến sĩ). Nhưng thôi, tuyên ngôn cũng chẳng gây hại nhiều lắm, trừ khi ta nhầm nó là thơ. (Tôi thường đọc thấy những câu danh ngôn, những lời hay ý đẹp được đăng trên báo, chúng chẳng bao giờ là thơ).

Hãy đọc các câu khác:

Tôi thuộc về tôi

không thuộc về Nó

Nếu Hồng Minh giải nghĩa về "Nó" có lẽ cũng phải vài trang giấy mà chưa hết, tôi đoán thế. Với một độ mù mờ lớn như vậy thì rất mệt cho người khác. Thao tác của anh với từ "Nó" cũng sẽ dẫn đến hậu quả như khi các cụ xử lý từ "Trúc". Trúc - quân tử. Nó - cái xấu, cái ác, cái không phải tôi ... Một tín hiệu không tốt lắm.

Thi sĩ với hạt giống thơ
Gặt hái mùa màng nhân loại.

Lối ẩn dụ này khác với những ẩn dụ trong thơ Hồ Xuân Hương hay thơ Nguyễn Khuyến, chúng gần như không có nghĩa đen, chẳng có loại hạt giống như thế trên đời, và "mùa màng nhân loại" là gì?

Giữa câu và dòng - lãng du
Tẻ nhạt, rườm rà và yên hùng - Du đãng

Khoảng mờ tối vô tình tác giả tạo ra thật là không nhỏ. Thật khó biết được cái "lãng du" mà tác giả muốn nói là cái gì. "Lãng du" chắc là một ẩn dụ nào đó chăng? hay là một ước lệ mới hình thành?

Những ẩn dụ không hoàn hảo làm nhiễu loạn ngôn ngữ. Một số ẩn dụ đơn giản hơn, mù mờ ngữ nghĩa giảm hẳn :

Bỗng một tiếng hát cất lên -

Rũ sạch bóng tối

Bỗng một giọng nói cất lên -

Mịt mùng lối

Không người dò đường

Dễ hiểu, nhưng lại không thể gọi là mới. Chúng gợi nhớ câu thơ Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ (Tố Hữu). "Bóng tối", "lối", cũng giữ vai trò như "nắng hạ". Tôi không còn ngạc nhiên trước những câu thơ mơ hồ và "kỳ vĩ" như thế, nhưng tôi ngạc nhiên bởi những câu thơ khác của anh. Những câu thơ có độ chính xác cao, trong một cách diễn đạt mới.

Tóc em rũ xuống một đám cháy lớn

Nhiều người đàn bà được gọi là "có thân hình rực lửa". Nhưng một sự biểu đạt đám cháy như thế rất đáng kể.

Không xâm thực nào như nếp nhăn

Hai chữ "xâm thực" biểu cảm hơn các từ sáo rỗng đại loại như "bóng tối". Ngôn ngữ trực diện, nó hiệu quả ngay trong cái vỏ ngữ âm mà ta tiếp xúc, không chỉ lớp nghĩa "sâu xa". Chúng ta phải làm việc với từ ngữ, âm điệu một cách vất vả hơn nhiều.

Ðời mấy ga qua

Hãy ngồi trên tàu, anh sẽ thấy rõ là anh chẳng chuyển động gì cả, chỉ có những nhà ga biết chạy thôi. Ẩn dụ này rất đáng kể, nó là kết quả của một thao tác đúng khi tiến hành tạo trường liên tưởng. Kỹ thuật này không sao chép từ xa xưa, nó khiến ta phải cẩn thận từng từ.

Thở niềm vui bằng một chiếc lưỡi buồn

"Thở niềm vui" - một từ qua loa đại khái, nhưng "chiếc lưỡi buồn" là một phát minh chữ nghĩa. Các cụ cũng nói "buồn mồm". Mải miết với những luận đề nào đó lớn lao Nguyễn Hữu Hồng Minh hầu như không làm thơ, anh làm nhiều tuyên ngôn. Bài thơ làm về cái bồn cầu của anh đáng tiếc là vẫn chỉ như một ví dụ để thể hiện tinh thần sống với cuộc đời chứ chưa phải là một cuộc sinh tử thật sự bằng thơ. Tinh thần đề cao hiện thực của anh chỉ thực sự chín trong bài "Ăn Hải cảng".

Tôi đã ăn một Hải cảng

trong vòng ba tiếng đồng hồ

Hải cảng đó hai mươi năm xa, bỗng quay về
Không nghĩ mình có thể ăn nhiều đến thế

Một cảm xúc rất khó viết, đã được viết, chính xác, và chẳng ai phải bàn ra tán vào về giá trị của các câu thơ như thế.

Ăn hai trái vú em săn chắc

thõng vào mặt như hai quả chuông

Những tiếng chuông vỡ ngọc tuổi thơ

Chữ "thõng` thiếu chính xác. Săn chắc không thõng được. Chỉ vú quả mướp mới thõng. "Những tiếng chuông vỡ ngọc tuổi thơ" càng không chính xác. Tiếng chuông thường phá không gian yên tĩnh chứ để làm vỡ ... ngọc thì ẩn dụ "ngọc" chẳng mấy thuyết phục. Hãy nhớ những câu thơ Hồ Xuân Hương tả đàn thằng ngọng xem chuông, họ đã nói những lời của họ, ngọng một cách rất chính xác, đích thị là ngọng. Những bất ổn này là kết quả của những câu thơ ít chi tiết và thiếu nghiêm nhặt?

Bài "Ăn Hải cảng" khá hoàn hảo, ngoài vài tì vết như thế. Nó là một bài thơ kết hợp rất giỏi những cảm xúc phong phú và mới mẻ trong các câu thơ sáng rõ, gần như là tối ưu về mặt biểu đạt. Chúng chính xác lạ thường. Cuộc sống và tâm hồn tìm thấy tiếng nói chung.

Tôi muốn ăn hết những bánh lái

Thật tai hại nếu viết "Tôi muốn ăn hết bóng đêm", "Tôi muốn ăn hết cô liêu". Một chàng trai thế kỷ 21, khi anh ta viết "Tôi muốn ăn hết những bánh lái" (trong cái "Hải cảng phong kín hai mươi năm").

Nguyễn Hữu Hồng Minh là một thi sĩ của sự chính xác. Nhưng thi sĩ đang vượt cạn, qua cửa ải của một ký ức thơ rất xa lạ với cuộc sống và có thể nói là xa lạ với con người.

Tôi thấy tác giả viết hoa chữ Hải cảng. Anh muốn Hải cảng của anh không phải là hải cảng cụ thể nào cả. Anh muốn đó là "một cái gì đó" ẩn dụ của sự bế tắc. Một hải cảng của nhiều hải cảng. Tôi muốn anh hãy viết thường hai chữ hải cảng. Mấy chữ "cảng Tiên Sa" chẳng ảnh hưởng gì đến sức gợi của bài thơ, và chúng ta chẳng phải thẹn thò gì với một hải cảng bé nhỏ đầy bụi và những quán gội đầu, những xe gỗ nằm dài dưới cái đồi có rất nhiều nấm mồ. Hãy ăn hết nó đi, trong ba tiếng đồng hồ, điều đó mới quan trọng.

Chính xác là anh đã ăn nó, và suy nghĩ về bữa tiệc của mình, phải tiêu hóa nó, thải ra những cặn bã và tìm kiếm dinh dưỡng bồi bổ cho cái thân xác mệt mỏi, cho thơ của anh, nó đang cố thoát khỏi một sự lầm lẫn của quá khứ. Hãy ăn hết cái bánh lái đã han gỉ này đi. Hãy tỉnh táo thoát khỏi đời sống tinh thần hoang sơ, vui vẻ, nhưng mụ mẫm (**).


03/2003

TAM LỆ


---------
Chú thích:
(*) Chất Trụ & Những Bài Thơ Khác - Thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nxb.Thuận Hóa-Huế 2002.
(**) Bài "Thơ chính xác" đã đăng trên Talawas, ngày 7.4.2003.

©nguyenhuuhongminh.com 

 

 

 



©nguyenhuuhongminh.com