Tác phẩm

"Ổ THIÊN ĐƯỜNG" NGUYỄN HỮU HỒNG MINH, NHỮNG GIẤC MƠ DANG DỞ - TIỂU LUẬN PHÊ BÌNH - LÊ QUANG ĐỨC

Nhà văn Trần Vũ và
nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh
Tư gia nhà phê bình văn học Thụy Khuê
Paris, Pháp
ẢNH: TRẦN-THIỆN ĐẠO


Viết tập truyện ngắn, Nguyễn Hữu Hồng Minh dường như không câu nệ vào mục tiêu “phản ánh luận” thông thường theo thói quen thời đại, vì thế đọc hết tập truyện, chúng ta không thấy tác giả “phản ánh” điều gì nhiều về hiện thực. Vẫn có những phận người cần lao khổ nhọc vùng bờ bãi châu thổ, những cuộc đời nông dân yêu đất đai nhưng bị “rắn độc” tước đi cả mảng sống lẫn giá trị tinh thần, những trí thức trẻ tuổi “sống mòn” trong sinh tồn, khiến trí tuệ, chữ nghĩa sáng tạo bị thương vong, tiêu biến… Song nhìn chung, các truyện ngắn chủ yếu tập trung vào phạm vi sáng tạo nghệ thuật hoặc các công việc liên quan đến sáng tạo, tập trung “phán ảnh” thế giới bên trong của con người. Nếu nhìn bằng con mắt của “phán ảnh luận” thì cái hiện thực trong tập truyện ngắn chính là đã dựng lên được, soi chiếu được ít nhiều trạng thái tinh thần thời đại, cái tâm thế bên trong của con người hiện đại. Một vài truyện viết theo kiểu hậu hiện đại, nhân vật mang tên ký hiệu, phi cốt truyện, hình tượng nhân vật được “bóp méo” để tạo nên khuôn mặt xộc xệch của con người hiện đại…

Đó là những phiến đoạn của đời sống, nói đúng hơn là những lát cắt tâm thức, nơi những phiền muộn lo âu, những ưu tư đau đớn, nơi những xung đột nội tâm, những sáng tối trong tâm hồn được phác lộ ra. Mỗi câu chuyện được viết như là sự bùng nổ ý thức, sự vỡ nổ của một trạng thái nội tâm bị những xung đột “giày xéo” đến mức tràn ra thành chữ nghĩa, thành chuyện kể… Tác giả dường như không để ý đến tuyến tính, cốt truyện, hành động, logic, những yếu tố liên quan đến truyện ngắn truyền thống mà trực diện để dòng chảy nội tâm, ý thức ào ạt hiện hình lên trang viết… “Sa mạc trắng và trăng” là một truyện ngắn tiêu biểu nhất cho kiểu truyện ngắn này. Không gian truyện đặc quánh, nhỏ hẹp như một hố sâu vô thức với những âm u và tuyệt vọng, những man dại và câm lặng. Theo ý thức, câu chuyện được kể với tiết tấu nhanh, nhân vật Đạt trượt theo chuỗi ý thức, đến vô thức, và đẩy đến cực điểm: “Cuối cùng Đạt thấy mình biến thành một con tắc kè đầu nhọn. Nóng quá. Tắc kè lột vỏ và bỏ đi. Để lại bộ da luôm nhuôm trên cát bỏng”.

Tập truyện ngắn Nguyễn Hữu Hồng Minh tập trung vào hai kiểu người: Những người trẻ tuổi, và những người hành nghề viết lách.

Ở nhóm truyện về những người trẻ tuổi, ta thấy họ bất an, mỏng manh trước dòng chảy đời sống. Có một sự bất định đè lên cuộc đời họ, họ không kiểm soát được ý chí, cảm xúc và số phận mình, họ nhận những kết quả ngẫu nhiên. Sự bất an ra đời không phải vì họ quá nhạy cảm để nhận thấy những biến đổi tinh vi và những tác động ngoại cảnh đến với họ, mà họ cảm thấy được những run rẩy của ý thức, một ý thức không hệ giá trị, không lý tưởng. Tựa như sự khủng hoảng ý thức…? Vì thế, đang sống, đang làm việc, Dương lại “linh cảm mơ hồ”, luôn mường tượng ra cái cảnh “con thuyền sắp đắm”, đắm trong một ngày đẹp trời. Đó là sự linh cảm một nỗi bất định của một trạng thái sống vô nghĩa trong một vẻ đẹp hào nhoáng đang bao phủ lên bề mặt xã hội giả dối… (Thuyền đắm ngày đẹp trời). Đó là những chân dung tuổi trẻ giàu mơ ước, giàu trí tuệ, giàu cảm xúc, hướng đến những lẽ sống cao đẹp, thao thức, băn khoăn, nhưng đường đời gập gềnh, cơm áo sinh tồn dúi sâu xuống mặt đất nên luôn vật vã đấu tranh nội tâm để vừa tồn tại, vừa giữ vững lẽ sống, nhưng lại chứa nhiều thất bại hơn là thành công… (Phong trong Ổ thiên đường, Đông trong Dư chấn biển, Quân trong Mặt đất im lặng, Hùng trong Tàu qua núi…và nhiều truyện khác).

Trong những câu chuyện về người làm nghề viết lách, anh ta có thể là nhà văn, nhà báo, hoặc nhà luyện ngôn… Anh ta thường vô danh nên được ký hiệu bằng một chữ cái F., M., T… Tất cả những nhân vật “sáng tạo” đều luôn có ý thức, luôn suy ngẫm về hành động văn chương của mình. Thế những gần như tất cả đều sống trong trạng thái sợ hãi, sợ hãi vô hình, bấn loạn giữa ý thức cao cả và hành động tầm thường, viết cẩu thả, viết kiếm cơm, viết trong sự cưỡng ép của dư luận, của bầy đàn đám đông… Vì thế họ sống trong mặc cảm sáng tạo. trong ý thức phản tỉnh không ngớt khi họ chỉ tạo ra một “nghĩa địa chữ” trong cuộc đời sáng tạo dằng dặc của mình. Họ lẫn lộn giá trị, viết trong mộng mị mờ mịt giữa tìm kiếm cách thức sáng tạo, giữa chữ và nghĩa. (Hõm ngoặc, Cái lưới, Chủ và thuyết, Đầu và đỉnh, Nhà văn lừng danh, Khách lạ lúc nửa đêm, Máy in tâm hồn, Ăn chữ, Vẽ bùa mà đeo, Nhai nhựa…). Nhân vật của tập truyện hầu hết là nhà văn, hoặc có công việc liên quan đến chữ nghĩa, đến văn bản. Điều này thể hiện rất rõ hoài bão văn chương của tác giả.

Ổ thiên đường của Nguyễn Hữu Hồng Minh tập hợp nhiều truyện dài ngắn khác nhau, có truyện vài ba trang, có truyện chỉ như là một nhát dao gồm một đoạn văn duy nhất, có truyện đậm cách kể truyền thống, có truyện được viết theo kiểu hậu hiện đại nhiều trang ròng rã…

Với những câu chuyện giàu chất thơ, được cấu trúc như tứ thơ, giọng kể thơ. cái đem đến cho độc giả là những hình tượng, đúng hơn là những biểu tượng mang tính ẩn dụ. Ẩn dụ dày đặc trong mô tả cảnh vật, con người hành động,… Dương, nhân viên chữa mo-rat của một tòa soạn Dương nhìn thấy cái chết của tờ báo, cũng là cái chết của những con chữ mà anh lọ mọ đánh vật sửa chữa từng ly. Đó là cái chết của những giá trị tinh thần trong một xã hội coi trọng vật dục, cũng là cái chết của những giá trị cá nhân trong sự đồng phục của xã hội (Thuyền đắm ngày đẹp trời). Đó là giá trị sáng tạo được sản sinh trong đôi mắt mù của T. (Nghệ thuật tương lai). Đó là một ẩn dụ chính trị trong tấm lưới thít chặt nhà văn ca ngượi tự do (Cái lưới). Đó là những kẻ vô hình, những vị khách lạ như những bóng ma lờn vờn quanh nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật (Khách lạ lúc nửa đêm),…

Ẩn dụ làm nên 2/3 các tiêu đề của truyện: Cái lưới, Khách lạ lúc nửa đêm, Máy in tâm hồn, Thuyền đắm ngày đẹp trời, Tàu qua núi, Ăn chữ, Ngày lạ, Mắt mèo xanh, Chất đồng, Ráp xác, Nhai nhựa, Vẽ bùa mà đeo…

Ẩn dụ đầy chất thơ dường như được tác giả bày biện sẵn trên bàn cho bạn đọc, rất dễ cảm thấy, rất dễ đạt đến mục tiêu đến nỗi dễ khiến người đọc truyện ngắn dường như không cần suy tư… Nhiều truyện ngắn như một bài thơ văn xuôi. Người đọc quen với văn xuôi truyền thống sẽ không thỏa mãn với nhiều truyện ngắn trong tập truyện Nguyễn Hữu Hồng Minh….

Có hai loại truyện tập hợp trong tập sách, một được viết theo kiểu truyền thống, một được viết kiểu ngụ ngôn, phúng dụ hiện đại. Những câu chuyện mi-ni ngăn ngắn như là một phiến đoạn của nhận thức, như một luận đề được diễn đạt bằng hình ảnh văn xuôi. “Nơi trú ẩn an toàn” là câu chuyện về một kẻ sợ hãi đến mức đánh mất bản thân mình. Sợ hãi cùng cực trong tâm thức khiến con người tự đào hố chôn mình. “Nửa viên hay một viên đạn cho tôi”  là một phúng dụ hiện đại về giá trị độc lập, cá thể của nhà văn khi sáng tạo…

           

Bìa tập truyện "Ổ Thiên Đường"
Nhà xuất bản Văn Học, 7.2011 
của nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh
Họa sĩ Nguyễn Tri Phương Đông
thiết kế, trình bày


Một vài truyện ngắn hay thì được tạo dựng bằng cấu tứ hoài niệm. “Tàu qua núi” là một hoài niệm, từ một hình ảnh đoàn tàu qua núi, nhân vật Hùng đã nhìn, ngắm, nhớ và nghĩ về tình yêu, về hành trình sống. Không cốt truyện, tác giả đã thực hiện một phóng đại tâm thế để dựng lên một biểu tượng ẩn dụ về sự đời sống, nơi con người không có sự chọn lựa nào hết… “Mưa châu thổ” cũng được kể như một hoài niệm về một chuyến đi của nhà văn trẻ, và ở đấy, anh đã gặp Út Miêng, người con gái hẩm hiu phải vật vã chuyển dạ giữa một vùng đất xa ngái gần như lãng quên, trong khi người chồng Tư Đen qua đời, và viên bác sĩ thì lạc tận phía cùng trời của châu thổ…Và nhà văn đã kể lại hành trình tìm đến viên bác sĩ qua những kênh xáng phiêu lưu, vô định. Một hành trình như là đi tìm kiếm chữ nghĩa cho trang văn, như là đi cứu một hi vọng mong manh của những con người gần như sống ở một vùng đất bỏ quên của Chúa,… Những cơn mưa châu thổ che giấu những bí mật về con người và sự cống của một vùng đất.

“Những quả trứng trong mơ” là một truyện ngắn hay nhất trong tập truyện. Cái hay của câu chuyên là nó đậm chất thổ ngơi châu thổ Nam Bộ. Ở đây, con người, cảnh sắc, văn phong đều được thể hiện bằng một ngôn ngữ đầy màu sắc tự nhiên của hiện thực, với một giọng kể rặt chất đồng bằng. Mười Dửng, kẻ chăn vịt lùa đồng đem lòng yêu Hai Trâm, một đóa hoa trên đồng cỏ chát. Những trứng vịt ngon nhất, đẹp nhất của trời đất đã được Mười Dửng dành tặng cho người đẹp. Thế nhưng, vì những trớ trêu, tình yêu ấy bị bỏ qua, để lại Mười Dửng cô độc và trôi dạt thăm thẳm, vô định trong màn trời mênh mông, còn Hai Trâm gặp phải một anh chồng nhà giàu dở người, bại liệt, để rồi trở nên một đau khổ cùng cực. Không ai làm chủ được số phận mình, không ai được theo mơ ước của mình, tất cả là những giấc mơ dang dở, nhưng con người vẫn không thôi mơ ước,…

Nhiều đoạn văn trong tập truyện Ổ thiên đường được viết tựa như sự trào thoát của những dòng điện năng, những con sóng, những dòng nham thạch trong một ống kính vạn hoa… Văn phong bạo liệt, những tính từ được sử dụng ở mức độ cao nhất, những hành động được miêu tả ở trạng thái “khoa trương” nhất, ngôn ngữ tự sự đậm đặc chất thơ, câu văn miêu tả dày đặc hình thức so sánh, ẩn dụ (Nhai nhựa, Vẽ bùa mà đeo, Khách lạ lúc nửa đêm, Nơi trú ẩn an toàn)… Nhân vật được tập trung vào ý thức bên trong. Các nhân vật hay trôi dạt và đẩy ý thức, soi chiếu dòng ý thức đến tận cùng, ý thức dẫn nhân vật đi, đi đến cùng cực… Tiêu biểu như nhân viên Dương thấy con thuyền đắm trong bão tố, thấy rất cụ thể, như là rất thực đang diễn ra: “Có những lúc như hôm nay, Dương đã suy kiệt đến tận cùng niềm tuyệt vọng. Ngày mai không một điểm sáng. Con thuyền lắt lay quay khóc giữa biển cả…” (Thuyền đắm ngày đẹp trời).

Vẻ đẹp ẩn dụ về những giấc mơ đời dang dở của con người là nét cơ bản làm nên sức thu hút cua người đọc trong tập truyện ngắn “Ổ thiên đường” của Nguyễn Hữu Hồng Minh.


Sài Gòn, tháng 5.2011

LÊ QUANG ĐỨC

 

©nguyenhuuhongminh.com