Tác phẩm

THỬ TÌM HIỂU TÍNH DÂN TỘC TRONG THƠ HÔM NAY - TIỂU LUẬN PHÊ BÌNH - TRẦN SÁNG

                                                    Trâu - Tranh họa sĩ Thái Tuấn
                                               Tư liệu của nhà phê bình Đặng Tiến





Chúng tôi quan niệm tính dân tộc không phải là một khái niệm bất biến mà là một cấu trúc mở. Tính dân tộc trong thơ hôm nay có gì mới, xin mời bạn đọc tìm hiểu ý kiến của một cây bút trẻ trong quân đội về vấn đề này để cùng tham khảo. Mong được sự trao đổi cùng độc giả. (Tạp chí Văn Nghệ Quân đội)

TRẦN SÁNG

Sáng tạo là một quá trình tìm tòi, khám phá. Trong hành trình văn học xa thẳm  ít có nhà thơ nào chỉ trung thành với một lối viết, một hình thức thể hiện. Nếu người sáng tạo chỉ bằng lòng với bộ cánh (dù sặc sỡ) của ngày hôm qua thì vô hình trung họ đã làm khô cằn cuộc sống vốn biến hoá muôn màu. Chính vì vậy, có thể khẳng định đổi mới là tất yếu đối với người sáng tạo nói chung và nhà thơ nói riêng. Song câu hỏi đặt ra là đổi mới như thế nào để “Ta” vẫn là “Ta”, để giữa trùng trùng bẳn sắc văn hoá nhân loại vẫn nhận ra bẳn sắc văn hóa dân tộc mình. Câu trả lời gần như đã được mặc định là: đổi mới gì thì đổi mới, nhưng vẫn phải bảo toàn “tính dân tộc” trong thơ. Dưới đây chúng tôi xin đi sâu vào phương diện ngôn ngữ vốn được coi là biểu hiện rõ nhất của tính dân tộc trong thơ.



 Một nhà thơ sáng tác bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình đó chính là lời giới thiệu với người đọc anh ta là ai! bởi vì mỗi một  ngôn ngữ, bản thân nó  đã chứa đựng trong đó những cơ tầng lịch sử, trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi dân tộc. Những vinh quang và đau khổ của cuộc sinh tồn đó đã khúc xạ vào thơ ca,  tạo nên bản quyền đặc biệt, làm cho ta không thể nhầm lẫn dù cho có trộn lẫn nó vào đâu. Mỗi một ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, với hệ thống ngữ pháp và những tập quán ngôn ngữ, ví dụ như lối nói tắt, nói ẩn dụ, thậm xưng, thói quen sử dụng hình ảnh thay thế, cách chơi chữ riêng. Chính điều này đã tạo ra những đặc trưng thi pháp của nền thơ ca dân tộc  đó. Vì vậy mà Truyện Kiều từ cốt truyện, nhân vật, địa danh đều của Trung Quốc, nhưng vẫn trở thành áng thơ trác tuyệt, niềm tự hào của văn học Việt Nam, đó là bởi vì khi thể hiện nó Nguyễn Du đã sử dụng lối nói, lối nghĩ, lối viết của người Việt Nam. Ví như đoạn đầu, với những “rằng năm Gia Tĩnh triều Minh....” hoặc “ có nhà Viên Ngoại. họ Vương...” rồi “lạ gì.bỉ sắc, tư phong...” hay như: “lời quê chắp nhặt dông dài....”. đó chính là cách nghĩ, cách kể đã quen thuộc với dân gian. Vậy nên dù không biết chữ nhưng nhiều người nông dân có thể thuộc làu truyện Kiều từ đầu chí cuối, mặc dù có thể họ chưa giải nghĩa được nhiều điển cố, điển tích trong đó, nhưng cách khơi gợi, dẫn giải trong tác phẩm thì đâu đó họ đã từng quen thuộc, gần gũi với họ trong câu chuyện bên bếp lửa, lúc ra đồng, buổi vãn chợ... Những nhà thơ dân tộc ít người như: Nông Quốc Chấn, Lò Ngân Sủn, Y Phương, Inrasara... Có thể rất lịch lãm thông tuệ về kiến thức, có thể cùng lúc sáng tác thơ bằng nhiều thứ tiếng khác nhau...nhưng rõ ràng đồng bào của họ sẽ ấm lòng hơn khi nghe thơ ho bằng chính tiếng mẹ đẻ, bằng chữ viết của mình.



Với tư cách là hồn cốt, là tinh tuý của một dân tộc văn hóa, chính là yếu tố quyết định “tính dân tộc” trong thơ. Bởi nó là tấm căn cước để nhận rõ “bản lai diện mục” của dân tộc, để khẳng định ta là ta chứ không phải là người khác. Nó luôn lung linh toả bóng trên từng trang, từng dòng, từng câu, từng chữ của nhà thơ. Vì sao khi đọc một bài Hai Ku- Nhật Bản. Ta cảm thấy mờ ảo bóng kiếm của những Samurai, như hoặc nghe như sột soạt tà Kimono của các Geisha. Còn khi thưởng thức một bài Sonnê thoang thoảng hương sắc đồng cỏ dịu dàng trải mình dưới nắng châu Âu. Là bởi trong đó có văn hóa. Đọc Inrasara ta thấy nét trầm ưu bên thoáng rạng rỡ trong lễ hội Ka Tê của người Chàm, vẻ nền nã, dịu hiền của thiếu nữ Thái vào đêm nhảy sạp tưng bừng, trong thơ Cầm Vĩnh Ưu. Cũng như đọc Y Phương thấy hiện lên bóng áo chàm bên chiếc cọn nước đầu bản người Tày v.v. điều này được thể hiện rất rõ trong thơ ca dân gian như:



- Hỡi cô  tát nước đầu làng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

- Hôm qua tát nước đầu đình/ Để quên chiếc áo trên cành hoa sen

- Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

- Thuyền về có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền




Hình ảnh của những bến nước, gốc đa, sân đình, những buổi tát nước dưới trăng, những đêm hẹn hò trai gái, những thúng, mủng, dần, sàng, lờ, đó, rậm, rổ, rá, ruộng rạ, cây rơm, bữa cơm, bát canh, mái đình cây đa, ao sen đã phản ánh không gian văn hoá yên bình của đồng bằng châu thổ của nền văn minh canh nông không trộn lẫn vào đâu được. Ngược lại không gian rừng núi lại hiện lên qua những thửa ruộng bậc thang, dấu chân thú bên bờ suối, tiếng đàn môi, đêm múa khèn, những phiên chợ tình, những dòng suối, ngọn núi cái cây... như:



Ngồi ngựa ngang mường Khương
Nhà trình tường
Đường mờ sương
Bà cụ xám thái bánh khoải
Chú ngựa bít móng sắt
Lập cập gõ hiền từ.
 (Thơ Y Phương)




hoặc nghe ca từ của những bài dân ca miền núi như:



Ru con con ngủ cho ngoan, để mẹ đi chặt cây chuối nơi rừng xa
                                                                 (Ru con- dân ca Xơ Đăng)



Mưa rơi cho chim ướt lông, nó sập bẫy trong rừng. Đầu nguồn đàn chim cu đang đua gáy, với đàn bướm cùng nô đùa
                                                                (Mưa rơi- dân ca Khơ Mú).




Đã có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề “tính dân tộc” của thơ đương đại. Có những ý kiến phản đối cho rằng thơ đương đại là lai căng, tắc tỵ, hủy hoại vẻ đẹp ngôn từ, làm “vong bản” dân tộc tính... Những ý kiến trên không hẳn đã là qui chụp, hồ đồ, thiếu căn cứ của những người bảo thủ. Bởi vì thực tế cũng đã có những “đổi mới” quá trớn, quá khích, cực đoan ví dụ như thơ của nhóm “ Mở miệng”. Một số bài của nhóm “Ngựa trời” hoặc một số bài, một số câu thơ của Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Ly Hoàng Ly, Lam Barcady.... cũng là truy tìm cái tôi, khai thác nhục cảm, nhưng với những câu đọc lên thấy rùng mình như: “ Những đám mây hành kinh, trên bầu trời quần lót” (Văn Cầm Hải) hoặc:"Những âm mao khác màu rung rinh trong gió” (Bùi Chát - nhóm “Mở miệng”), hoặc: “mỗi ngày / tối nằm / đít mềm / & ấm / cũng có lúc vú mát & săn / lưỡi lè cứng những phương trời thổn thức / thì không...” (Lý Đợi - nhóm “Mở miệng”). Dù  đã nguỵ biện bằng những lập luận, đại ngôn, mỹ miều là là họ dùng thủ pháp ẩn dụ, hoán dụ, làm nhoà ý, phiếm định câu thơ, tạo phức âm, mở rộng tâm giới, tìm đến cõi vô biên để khám khá bản thể, truy tìm cái tôi v.v và v.v. nhưng cũng không thể gột rửa hết sự uế tạp, ô nhiễm bởi những cố gắng đập phá ngôn từ, thô tục hoá thi ca của họ. Dân gian cũng có “đố tục giảng thanh” Thơ của bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương cũng đầy những ám dụ tình dục, nhưng không thể nói những vần thơ đó không hoàn thành chức năng thẩm mỹ của mình, bởi đích đến của nó không phải là những cảm xúc bệnh hoạn như những câu thơ trên. (nếu có thể gọi đó là thơ). Sự tục tĩu, thô lậu của họ rất xa lạ với sự ý nhị ,sâu sắc vốn là truyền thống hay nói cách khác là tính dân tộc của thi ca Việt Nam. Tuy nhiên bên cạnh những trường hợp cực đoan như vậy, đáng mừng là vẫn còn những nhà thơ bằng những tìm tòi đổi mới nghiêm túc đã có những thành tựu đáng kể. Điển hình như Nguyễn Quang Thiều. Hãy khảo sát đoạn thơ trích trong bài “Đại Lộ” nằm trong tập: “Sự mất ngủ của lửa” của nhà thơ này:



Những người đàn bà vác dậm đi thành một hàng dọc về phía bên phải sát mép đại lộ
Người họ bọc kín bởi những lớp vải nâu và đen
Những chiếc dậm đan bằng tre trên vai họ như vầng trăng khuyết vớt từ bùn lên
Những cái giỏ bên hông như những cái đầu trọc lắc lư theo nhịp bước
Bóng họ đổ xuống đường thành những vũng đen.




Ở đây đã không còn sự phối hợp của trắc, bằng, vần điệu, không còn những niêm luật và cũng không còn cả những cách cảm, cách nghĩ cách đặt vấn đề quen thuộc trong thi ca truyền thống, nhưng tính dân tộc vẫn thấp thoáng qua những hình ảnh như những người đàn bà vác dậm trên đường, ngọn đèn dầu trong ngõ nhỏ...
Nhưng tới những bài thơ như “người đàn ông điên” như đoạn trích sau:



Người đàn ông điên không quần áo đang đi trên đường phố
Thứ tự do này làm hoảng sợ mọi thứ tự do
Trong sự hổ nhục của người đàn bà đi qua mặt người đàn ông điên
Trong sự không hổ nhục của người đàn ông điên trước chúng sinh và mặt trời
Ta vẽ mắt nhân loại hình lục giác.

 

Những người đàn ông điên, những cặp mắt hình lục giác, những bông hoa thiếu máu, tiếng nức nở khi nước rót vào bình gốm. Nếu nhưng hình ảnh đó không hoàn toàn xa lạ, thì cũng khó có thể nói là quen thuộc với chúng ta. Vậy tính dân tộc ở đâu trong những bài thơ này? Trước hết tuy  tước bỏ sự vòng vèo của vần điệu nhưng tư tưởng của những vần thơ trên vẫn ánh lên vẻ dưới lớp vỏ ngôn từ đẹp đẽ, chính xác và sang trọng - Trật tự ngữ pháp và chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ đã không bị huỷ hoại -  Sau nữa bên dưới lớp vỏ có vẻ bí ẩn  bề ngoài là nỗi buồn cao cả, sự xót xa, niềm trắc ẩn, là những câu hỏi day dứt trước những số phận yếm thế, trước những nỗi cô đơn, lạnh lẽo của phận người. Là dự cảm bất an thường trực trước tương lai con người! Nhà thơ không chơi chữ, cũng không thách đố người đọc, mà chỉ đưa ra một văn bản đa âm, được mã hoá (tất nhiên chìa khoá đã được đặt trịnh trọng trong những con chữ của bài thơ). Đó là những lời từ trái tim, là  chủ nghĩa nhân đạo cao cả cuả người Việt. Cũng chính là cái đích hướng đến của nhân loại. Những vần thơ đó đã chinh phục được trái tim nhân loại trong khi nhà thơ vẫn đứng vững hai chân trên mảnh đất dân tộc mình.
 


Trần Sáng / Nguồn Văn nghệ Quân đội


©nguyenhuuhongminh.com